Từ công trình nghiên cứu của GS.TS. Teruo Higa ở Trường Đại học Tổng hợp Ryu Kyus – Okinawa – Nhật Bản đã cho ra đời chủ thuyết vi sinh vật hữu hiệu (Effective Microorganisms) từ năm 1980. Ông đã phân lập các nhóm VSV hữu hiệu ở nhiều điều kiện sinh thái khác nhau, chọn lọc và tổng hợp chúng lại thành chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu.

Chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu được phát triển nhanh chóng thành công nghệ vi sinh hữu hiệu. Sử dụng chế phẩm vi sinh hữu hiệu cho nhiều đối tượng khác nhau: cây trồng, vật nuôi, thủy sản đều gây hiệu quả rất rõ rệt. Công nghệ này của GS Higa đã bùng phát trên phạm vi toàn cầu. Đến nay đã có trên 100 nước sử dụng công nghệ vi sinh này, coi đó là một trong những giải pháp hữu hiệu nhất trong xử lý môi trường và phát triển nông nghiệp bền vững, vừa tăng năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi vừa tạo một môi trường sinh thái lành mạnh.

Trên cơ sở tình hình sử dụng chế phẩm vi sinh hữu hiệu trên thế giới và kết quả thử nghiệm thăm dò ở nước ta, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường đã quyết định cho tiến hành đề tài độc lập cấp Nhà nước “Nghiên cứu thử nghiệm và tiếp thu công nghệ vi sinh hữu hiệu trong các lĩnh vực nông nghiệp và vệ sinh môi trường” nhằm đánh giá chính xác toàn diện những tác dụng của chế phẩm này và đề xuất phương án sử dụng. Đề tài được giao cho PGS.TS. Nguyễn Quang Thạch – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nông nghiệp I làm Chủ nhiệm đề tài (nay là GS.TS.Nguyễn Quang Thạch- Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Sinh học Nông nghiệp – Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội).

Kết quả nghiên cứu của đề tài đã khẳng định chế phẩm vi sinh hữu hiệu an toàn, hoàn toàn không có tác động tiêu cực đối với động vật và gia súc, không có vi sinh vật gây bệnh. Đề tài cũng đã phân lập được các nhóm vi sinh vật chủ yếu có trong chế phẩm, phát hiện hàng loạt cơ chế tác động quan trọng của chế phẩm này làm cơ sở cho việc xây dựng các giải pháp kỹ thuật ứng dụng, cũng như giải thích cơ chế hiệu quả tác động của chế phẩm vi sinh này.

Từ các kết quả nghiên cứu của đề tài các nhà khoa học đề nghị cho sử dụng rộng rãi công nghệ này vào vệ sinh môi trường, xử lý rác thải, nước thải, ứng dụng trong trồng trọt, chăn nuôi thú y, thuỷ sản, cải tạo đất.

Để có thể phát triển công nghệ vi sinh một cách bền vững, Bộ Khoa học và Công nghệ khuyến cáo cần nghiên cứu tiến tới tự sản xuất các loại chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu của Việt Nam.

Dựa trên nguyên lý hoạt động và phối chế của chế phẩm vi sinh nhập từ Nhật, nhiều cơ quan ở Việt Nam đã dày công nghiên cứu và sản xuất các dạng vi sinh hữu hiệu của Việt Nam và đơn vị thành công nhất với sản phẩm BIO ASKOI của Viện Sinh học Nông nghiệp, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội… Các chế phẩm này về cơ bản có mặt các nhóm vi sinh vật có lợi được sản xuất theo công nghệ của Nhật Bản từ nguồn vi sinh vật phân lập tại Việt Nam không phải là sinh vật lạ, nhập ngoại. Các VSV hữu hiệu này được phân lập từ tự nhiên hoàn toàn không độc với người, động vật và môi trường, có khả năng thích nghi với điều kiện sinh thái của Việt Nam.

Mặt khác, do được sản xuất trong nước nên giá sản phẩm cũng phù hợp với điều kiện kinh tế thu nhập thấp của người sử dụng. Chế phẩm BIO ASKOI đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là tiến bộ kỹ thuật, cho phép ứng dụng rộng rãi ngoài sản xuất.

Có thể tổng hợp chung hiệu quả của chế phẩm BIO ASKOI đối với nông nghiệp và môi trường nông nghiệp là: Chế phẩm chuyên biệt cho xử lý môi trường thủy sản được tập trung mật độ cao các loài vi sinh vật khử độc H2S, NH3, NO2, và vi khuẩn Lactic để khống chế môi trường nước, định hướng hoạt động cho các loài vi sinh vật khác trong môi trường ao nuôi hoạt động theo hướng có lợi cho các loài thủy hải sản. Nên khi sử dụng thường xuyên chế phẩm trong ao nuôi, các hiện tượng cá, tôm bị ngộ độc môi trường với các biểu hiện như nổi đầu, kéo đàn, bu bờ không thấy xuất hiện. Các loại bệnh như đen mang, đen lưng và nhiều bệnh khác cũng được hạn chế hiệu quả.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here